Đặc Điểm Thời Kỳ Quá Độ Ở Việt Nam

*
Giới thiệuNghiên cứu lý luậnĐào tạo - Bồi dưỡngThực tiễnNhân vật - Sự kiệnDiễn đànQuốc tếTin tức Từ điển mở


Trang chủNghiên cứu lý luậnNhận thức của Đảng ta về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

(LLCT) - Quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là sự lựa chọn đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và nhân dân ta, phù hợp với xu thế vận động tiến bộ của thời đại và điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Nhờ đó, đất nước ta đã giành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, đặc biệt là những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trong hơn 35 năm đổi mới. Bài viết góp phần làm rõ quan điểm của Đảng về thời kỳ quá độ lên CNXH; nội dung và phương hướng đi lên CNXH; khái quát những bước chuyển căn bản trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay.

Bạn đang xem: Đặc điểm thời kỳ quá độ ở việt nam


*

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam - Ảnh: dangcongsan.vn

Cho đến nay, lịch sử nhân loại đã trải qua các hình thái kinh tế - xã hội: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội - giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Do đặc điểm về lịch sử, không gian và thời gian cụ thể, không phải quốc gia nào cũng phải trải qua tất cả các hình thái kinh tế - xã hội có tính tuần tự từ thấp lên cao. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, có những nước do những điều kiện khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài chi phối đã bỏ qua một hoặc hai hình thái kinh tế - xã hội nào đó trong tiến trình phát triển.

1. Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và của Đảng ta về thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội

Theo quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, phát triển “tuần tự” hay “bỏ qua” một hình thái kinh tế - xã hội đều là quá trình lịch sử - tự nhiên. C.Mác đã viết: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”(1). Căn cứ vào tiến trình liên tục, không ngừng của cách mạng vô sản thế kỷ XIX, C.Mác, Ph.Ăngghen đã khái quát lý luận về thời kỳ quá độ và coi đó là một nấc thang tất yếu phải trải qua để bước sang xã hội cộng sản. Các ông cho rằng: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”(2). Luận điểm của các nhà kinh điển thể hiện rõ tư tưởng về một hình thức quá độ “trực tiếp” sau khi giai cấp vô sản giành được chính quyền từ giai cấp tư sản. Đồng thời, các ông cũng chỉ rõ: “Một xã hội, ngay cả khi đã phát hiện được quy luật tự nhiên của sự vận động của nó... cũng không thể nào nhảy qua các giai đoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắc lệnh để xóa bỏ những giai đoạn đó. Nhưng nó có thể rút ngắn và làm dịu bớt những cơn đau đẻ”(3).

Trung thành với học thuyết Mác, V.I.Lênin phát triển lý luận về sự phát triển “rút ngắn” và “không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”, coi đó là hình thức quá độ “gián tiếp” đi lên CNXH, đồng thời chỉ ra những điều kiện và biện pháp để thực hiện bước quá độ ấy. V.I.Lênin cho rằng: “với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ Xôviết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”(4). V.I.Lênin cũng viết rõ rằng: “cần phải có một thời kỳ quá độ khá lâu dài từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội”(5). Đồng thời, Người cũng nhắc nhở rằng: “Suốt cả thời kỳ đó, trong chính sách của chúng ta, lại chia ra thành nhiều bước quá độ nhỏ hơn nữa. Và tất cả cái khó khăn của nhiệm vụ chúng ta phải làm, tất cả cái khó khăn của chính sách và tất cả sự khéo léo của chính sách là ở chỗ biết tính đến những nhiệm vụ đặc thù của từng bước quá độ đó”(6).

Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng ta nhận thức về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là một thời kỳ lâu dài với nhiều chặng đường. Thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam được bắt đầu từ năm 1954 khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH với những đặc điểm như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu: “đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”(7). Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước năm 1975, đất nước thống nhất, cả nước bước vào thời kỳ quá độ đi lên CNXH. Từ đó cho đến khi Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới năm 1986 là tròn một thập kỷ. Đây là thời kỳ xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội, khắc phục hậu quả nặng nề sau chiến tranh, khó khăn chồng chất khó khăn. Mặt khác, do chưa nhận thức đầy đủ về thời kỳ quá độ lên CNXH là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng đường và do tư tưởng chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết, nên Đại hội IV (năm 1976) của Đảng chưa xác định những mục tiêu của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ. Trong những năm 1976-1980, trên thực tế chúng ta chủ trương đẩy mạnh CNH trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết, mặt khác, chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã lỗi thời. Đến Đại hội V (năm 1981), cùng với việc khẳng định hai nhiệm vụ chiến lược, Đảng ta đã cụ thể hóa một bước đường lối kinh tế trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, đề ra những mục tiêu tổng quát, các chính sách lớn về kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trong chỉ đạo thực hiện đã không quán triệt những kết luận quan trọng nói trên, chưa kiên quyết khắc phục tư tưởng nóng vội và duy ý chí, thể hiện chủ yếu trong các chủ trương về cơ cấu kinh tế, cải tạo XHCN và cơ chế quản lý, nên dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội.

Thấu hiểu tình hình đất nước, với tư duy nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật và quyết tâm đổi mới, tại Đại hội VI (năm 1986), Đảng ta xác định: “Thời kỳ quá độ ở nước ta do tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, đương nhiên phải lâu dài và rất khó khăn. Đó là một thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để nhằm xây dựng từ đầu một chế độ xã hội mới cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng”(8), đồng thời nhận thức rõ, chặng đường đầu tiên là bước quá độ nhỏ trong bước quá độ lớn. Đại hội còn chỉ ra rằng, sau Đại hội này, với tinh thần cách mạng và khoa học, tiếp tục phát triển đường lối đã được xác định, Đảng ta cần xúc tiến xây dựng một Cương lĩnh hoàn chỉnh cho toàn bộ cuộc cách mạng XHCN trong thời kỳ quá độ. Trên cơ sở cương lĩnh đó, sẽ xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển khoa học - kỹ thuật, phát triển đất nước.

Năm 1991, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ và đáng tiếc là ngay trong hàng ngũ những người cộng sản cũng có hiện tượng dao động về lập trường, xuất hiện những khuynh hướng phủ định các thành tựu, từ đó dẫn đến phủ định con đường XHCN. Trong bối cảnh phức tạp như vậy, tại Đại hội VII (năm 1991), Đảng ta đã đưa ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó xác định: “Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường. Mục tiêu của chặng đường đầu là: thông qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới trạng thái ổn định vững chắc, tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau”(9).

Đến Đại hội IX (năm 2001), Đảng đã nhận định: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”(10), trong đó, xác định chặng đường đầu tiên là chuẩn bị tiền đề cho chặng sau, tạo ra sự ổn định vững chắc của xã hội thông qua đổi mới, tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau. Chặng đường tiếp theo là đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và cơ bản trở thành một nước công nghiệp.

Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986-2011), tại Đại hội XI, Đảng ta đưa ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó xác định rõ hơn: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh... Đây là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức kinh tế, xã hội đan xen”(11).

Có thể nói, nếu trước đây nhận thức của Đảng ta về thời kỳ quá độ đi lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam còn giản đơn, thì đến thời kỳ đổi mới, nhận thức của Đảng về vấn đề này ngày càng sáng rõ hơn. Đó là, quá độ đi lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta là một tất yếu khách quan, là một thời kỳ lâu dài với nhiều chặng đường. Đồng thời, Đảng ta cũng nhấn mạnh rằng, một số vấn đề trong Cương lĩnh vẫn cần phải tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển cùng với sự phát triển của đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH.

2. Đảng ta xác định mục tiêu, nội dung và phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội của thời kỳ quá độ ở nước ta trong công cuộc đổi mới

Về mục tiêu, từ Đại hội VI (năm 1986) đến nay, dù cách diễn đạt khác nhau, nhưng tựu chung Đảng ta đều xác định rõ được mục tiêu xây dựng CNXH ở nước ta trong thời kỳ quá độ. Cụ thể là: Đại hội VI xác định: Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường tiếp theo. Đại hội VII (năm 1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó xác định: Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của CNXH, với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hóa phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước XHCN phồn vinh. Đại hội XI thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), xác định: Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của CNXH với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước XHCN ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại.

Về nội dung, Đại hội VI của Đảng năm 1986 xác định nội dung với nhiệm vụ của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ là: sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy; bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất; xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội; bảo đảm nhu cầu quốc phòng và an ninh. Đại hội VII (năm 1991), Đảng ta xác định nội dung cơ bản là: Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Do nhân dân lao động làm chủ. Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu. Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.

Đến Đại hội XI của Đảng năm 2011, Đảng ta nêu nội dung xây dựng CNXH gọn và rõ hơn: Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân do Đảng lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Về phương hướng, Đại hội VI (năm 1986) nêu tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tế là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất XHCN. Để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh theo con đường XHCN, điều quan trọng nhất là phải cải biến căn bản tình trạng kinh tế - xã hội kém phát triển, chiến thắng những lực cản đối với công cuộc xây dựng CNXH. Vì thế, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Đảng ta xác định phương hướng cơ bản là xây dựng nhà nước XHCN, nhà nước của dân, do dân, vì dân; thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại; không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; thiết lập từng bước quan hệ sản xuất XHCN từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu; phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN; tiến hành cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa; thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh; thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước; xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam; nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn nhiệm vụ lãnh đạo sự nghiệp cách mạng XHCN ở nước ta.

Những thành tựu đạt được trong 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991 có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần thực hiện thành công chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, sức mạnh quốc gia về mọi mặt được tăng cường, độc lập, tự chủ và chế độ XHCN được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn mới.

Tuy nhiên, quá độ lên CNXH ở nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau và diễn biến phức tạp, không thể xem thường. Để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, Đại hội XI của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó xác định phương hướng cơ bản là: Một là, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Sáu là, xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất. Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Rõ ràng, mục tiêu, nội dung và phương hướng của thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam được Đảng ta xác định ngày càng rõ hơn và khác về nguyên tắc với kiểu quá độ “trực tiếp” từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH, mà là quá độ “gián tiếp” từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến lên CNXH. Đó là tính đặc thù của thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam.

Xem thêm: Tất Tần Tật Về Đất Trồng Hoa Sứ Và Kỹ Thuật Trồng Cho Cây Ra Hoa

3. Khái quát những bước chuyển căn bản trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay

Quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là một quá trình lịch sử lâu dài với những bước đi và giải pháp phù hợp với điều kiện và trình độ của xã hội nước ta từ sản xuất nhỏ là phổ biến đi lên CNXH. Từ năm 1986 đến nay, quá độ đi lên CNXH ở nước ta có những bước chuyển căn bản, thể hiện rõ ở những vấn đề nổi bật sau đây:

Một là, từ mô hình kinh tế hiện vật với sự tuyệt đối hóa sở hữu xã hội (nhà nước và tập thể) và với sự phát triển vượt trước của quan hệ sản xuất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất sang thực hiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong sự thống nhất biện chứng với tính đa dạng các hình thức sở hữu, phân phối, lấy phân phối theo lao động làm đặc trưng chủ yếu, thúc đẩy sản xuất phát triển. Đây là bước chuyển căn bản mà ý nghĩa sâu xa là tôn trọng quy luật khách quan về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất; dựa vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mà từng bước thiết lập quan hệ sản xuất tương ứng. Nhờ đó, đã mở đường giải phóng sức sản xuất, giải phóng mọi tiềm năng xã hội. Nhân tố quan trọng bậc nhất được thúc đẩy là lợi ích, trong đó lợi ích của người lao động được coi trọng và là động lực trực tiếp để thực hiện, phát triển lợi ích tập thể và lợi ích xã hội. Bước chuyển này có ý nghĩa cách mạng, đã đặt đúng vị trí và tầm quan trọng của cái tất yếu kinh tế trong sự phát triển quá độ lên CNXH theo con đường phát triển “rút ngắn”, loại hình quá độ “gián tiếp” mà quy luật của lịch sử đã đặt ra.

Hai là, từ quản lý nền kinh tế dựa trên mô hình kế hoạch hóa tập trung tuyệt đối với cơ chế bao cấp, bình quân, cào bằng sang mô hình quản lý mới thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, có sự điều tiết ở tầm vĩ mô, thông qua quản lý, kiểm soát bằng pháp luật của Nhà nước. Nền kinh tế vận hành trong cơ chế thị trường đã dẫn đến sự tác động, thâm nhập lẫn nhau giữa các thành phần kinh tế, tạo thành sự đan xen các hình thức sở hữu, các phương thức quản lý và phân phối lợi ích phù hợp với quan hệ sản xuất, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất ở thời kỳ quá độ đi lên CNXH. Trong cơ chế thị trường, các chủ thể sản xuất kinh doanh, vừa là chủ thể tiêu dùng sản phẩm hàng hóa được đặt vào những cơ hội như nhau để phát triển, được thể hiện ở tài năng, được thử thách về trình độ, năng lực, phẩm chất và sự sáng tạo trong hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh đòi hỏi chấp nhận cạnh tranh. Cơ chế thị trường có mặt trái của nó là cạnh tranh, dẫn đến sự chênh lệch thu nhập, bất bình đẳng và phân hóa giàu nghèo. Vấn đề đặt ra là phải có chính sách đúng đắn để hạn chế tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, hướng tới mục tiêu công bằng xã hội, theo định hướng XHCN.

Ba là, đã tiến hành đổi mới hệ thống chính trị. Từ chế độ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp và phương thức quản lý hành chính mệnh lệnh chuyển sang dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội, thực hiện dân chủ gắn với tôn trọng pháp luật, kỷ cương xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Nội dung cơ bản của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nền dân chủ XHCN. Ngay từ đầu công cuộc đổi mới, Đảng ta đã chủ trương giữ vững ổn định chính trị, coi đó là tiền đề, điều kiện cơ bản để thực hiện đổi mới toàn diện đất nước. Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều biện pháp để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Thực hiện đổi mới hệ thống chính trị sau đổi mới kinh tế đã tạo ra sự ổn định xã hội, đồng thời xác nhận tầm quan trọng của những nguyên tắc, biện pháp, bước đi trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Bước chuyển này góp phần quan trọng vào việc tháo gỡ khó khăn, tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa, xã hội, làm nảy sinh những nhân tố mới, động lực mới cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo để tìm cách giải quyết phù hợp và có hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra trong thời kỳ quá độ lên CNXH, đó là quan niệm về sự hình thành và phát triển CNXH ở nước ta. CNXH với tư cách là một chế độ xã hội và là giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH. Song, không có một mô hình duy nhất, không có mẫu hình duy nhất giống hệt nhau được áp dụng ở tất cả các nước, mà đòi hỏi phải sáng tạo phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước. Vấn đề đặt ra là phải kết hợp dân tộc và quốc tế, truyền thống với hiện đại, chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân. Đồng thời, phải vừa hợp tác, vừa đấu tranh để bảo vệ những lợi ích chính đáng của quốc gia dân tộc. Tuy nhiên, để giữ vững định hướng XHCN phải không ngừng sáng tạo, phải khắc phục ảnh hưởng của chủ nghĩa giáo điều, rập khuôn, máy móc, sao chép mô hình của nước ngoài, đồng thời phải đấu tranh với âm mưu chống phá của các thế lực thù địch.

Năm là, khắc phục những hạn chế và khiếm khuyết về mô hình xây dựng CNXH kiểu cũ có liên quan đến vấn đề con người trong thời kỳ quá độ, Đảng và Nhà nước ta đã làm sáng tỏ hơn tư tưởng nhân đạo, khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, thừa nhận và bảo vệ những lợi ích chính đáng của người lao động là một trong những động lực trực tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, là cơ sở thực hiện lợi ích chung của tập thể và của xã hội. Con người là nguồn lực của mọi nguồn lực, vừa là động lực, vừa là mục tiêu, là nguồn nội sinh quan trọng của mọi chính sách kinh tế - xã hội, của phát triển đất nước bền vững. Do đó, Đảng ta chủ trương đầu tư cho con người là đầu tư cho phát triển, đầu tư cho giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là đầu tư theo chiều sâu, đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế.

Quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta đã được thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng khẳng định là đúng đắn, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Những thành tựu đạt được trong hơn 35 năm đổi mới là to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, sức mạnh về mọi mặt được tăng cường, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao; tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn trong những thập niên tới, như Đại hội XIII của Đảng đã đề ra: “Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(12).

__________________

(1), (3) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.21, 21.

(2) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.19, tr.48.

(4) V.I.Lênin: Toàn tập, t.41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1975, tr.295.

(5) V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.38, tr.464.

(6) V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.40, tr.119 -120.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.411.

(8) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.41.

(9) ĐCSVN: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.11.

(10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.85.

(11) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.70.

(12) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, tr.36.