Bốn huyền là gì

Trước đây, chúng tôi đã có vài lần trả lời cho câu hỏi này tại mục Chuyện Đông chuyện Tây của Kiến thức ngày nay, mà lần quan trọng nhất có tính chất “tổng kết” là trên số 216, ra ngày 20.7.1996.

Bạn đang xem: Bốn huyền là gì


 Lúc đó, bốn chữ cửu huyền thất tổ không hề được ghi nhận trong Từ nguyên, Từ hải, Vương Vân Ngũ đại từ điển, Hiện đại Hán ngữ từ điển (Bắc Kinh, 1992)... Thậm chí đồ sộ như Trung văn đại từ điển gồm 38 quyển chính văn và 2 quyển sách dẫn cũng không thấy ghi nhận. Không có cách nào khác, chúng tôi đành phải suy luận theo quan niệm và hiểu biết riêng để trả lời cho một câu hỏi mà nhiều bạn đọc quan tâm. Mới đây nhất, trong câu trả lời cho cư sĩ Ánh Quang, đưa lên trang phatgiao.org.vn ngày 8.9.2019, Thượng tọa Thích Giác Hoàng cũng đã viết:
“Câu hỏi của cư sĩ làm chúng tôi phải tra khảo lại các từ điển Phật học và Hán học, hơn thế nữa, chúng tôi còn nhờ Đại đức Thích Minh Nghị hiện đang du học tại Trung Hoa tra khảo giúp nơi các bộ từ điển lớn của Trung Hoa, nhưng cũng không thấy từ nguyên của bốn chữ này. Như chúng ta biết, phần lớn các thuật ngữ Hán Việt đều được người Việt tiếp thu thông qua các cuộc giao lưu văn hóa, tôn giáo Hán - Việt qua nhiều thời đại. Nhưng bốn chữ này, chúng tôi nghĩ là do các nhà sư Việt Nam sáng tạo, không hề chịu ảnh hưởng văn hóa của Phật giáo Trung Quốc hoặc Ấn Độ”.
Chúng tôi tôn trọng lời giải đáp của Thượng tọa Thích Giác Hoàng nhưng thực ra thì bốn chữ cửu huyền thất tổ vốn thuộc về văn hóa tâm linh của Trung Hoa từ thời xa xưa. Sự phát triển của internet giúp ta tiếp cận được với nội hàm của khái niệm này một cách rõ ràng và chính xác. Trên nhiều trang web bằng tiếng Hán, ta có thể đọc thấy:
“Cửu huyền thất tổ thường thấy trong lễ cầu siêu của tôn giáo, cửu huyền chỉ con cháu chín đời sau của đương sự, thất tổ chỉ ông bà bảy đời trước của đương sự. Tại Đài Loan, nghi thức cúng ông bà theo truyền thống cần đặt bài vị Cửu huyền thất tổ”.

Xem thêm: Những Cách Tự Sướng Của Con Trai, Cách Tự Sướng Đạt Khoái Cảm Cho Nam Giới


“Các sách kinh điển của Đạo giáo <Đạo kinh> cho rằng nếu một người có thể đắc đạo thì cửu huyền thất tổ đều có thể siêu thăng”. (Đạo kinh ở đây là các sách kinh điển của Đạo giáo chứ không phải là phần “Đạo kinh” trong sách Đạo đức kinh của Lão Tử - A.C).
“Cửu huyền là: tử (con), tôn (cháu), tằng (chắt), huyền (chút), lai (chít), côn (cháu đời thứ năm), nhưng (cháu đời thứ sáu), vân (cháu đời thứ bảy), nhĩ (cháu đời thứ tám). Thất tổ là: phụ (cha), tổ (ông ), tằng (ông cố; cụ), cao (ông sơ), thái (ông sờ), huyền (tổ đời thứ năm), hiển (tổ đời thứ sáu)”.
*

Không! Cửu huyền thất tổ là quy định do triều đình phong kiến đặt ra trong việc thờ cúng tại gia. Theo đó, hoàng tộc thì được thờ 7 đời tổ; bách tính được thờ 4 đời tổ, bốn đời con cháu, và đời của đương sự, đó gọi là cửu huyền.
*

Nói đúng thì: Cửu huyền là một việc, Thất Tổ là một việc. Nhập chung mà nói thì không đúng. Như Phùng Lên nói đúng là xưa theo phong kiến chỉ có Vua Chúa phải thờ cúng 7 đời Tổ. Thất Tổ gồm có:7. Thỉ Tổ (Tỷ Khảo) : Thất Tổ6. Viễn Tổ (Tỷ Khảo) : Lục Tổ5. Tiên Tổ (Tỷ Khảo) : Ngũ Tổ4. Cao Tổ (Tỷ Khảo) : Tứ Tổ3. Tằng Tổ (Tỷ Khảo) : Tam Tổ2. Nội Tổ (Tỷ Khảo) : Nhị Tổ1. Phụ thân (Tỷ Khảo) : Nhứt TổCòn dân gian thờ 3 đời thôi: Cha Mẹ, Ông bà và Ông Bà Cố tổ.Còn Cửu huyền (Huyền là dây, liên hệ, Lục Huyền Cầm là cây đàn có 6 dây). Nghĩa là 9 đời hay 9 thế hệ, Gồm có 1. Cao Tổ: Ông sơ2. Tằng tổ: Ông cố3. Tổ phụ: Ông nội4. Phụ: Cha5. Bản thân6. Tử: Con trai7. Tôn: Cháu nội8. Tằng tôn: Chắt (cháu cố)9. Huyền tôn: Chít (cháu sơ)Như vậy Cửu Huyền để ghi nhớ, trên bàn thờ mà đặt Cửu Huyền lên thì có những con cháu còn sống, hay chưa ra đời hình như không đúng.
*

Các nhà thường treo tấm cửu huyền thất tổ bằng chữ Hán hoặc chữ quốc ngữ, qua bài viết có thể hiểu được ý nghĩa của nó